Bỏ qua tới nội dung
  1. Thư viện
  2. Kiến thức trading
  3. Bài viết
Kiến thức trading Cấu trúc thị trường Cấp độ: Nền tảng

Hỗ trợ và kháng cự như một vùng

Phân biệt mức giá với vùng giá, cách lập vùng hỗ trợ hoặc kháng cự từ các điểm xoay đã xác nhận, thời điểm vùng được biết, cách mô tả phản ứng giá quanh vùng mà không mặc định vùng sẽ giữ, đổi vai hay tạo cơ hội giao dịch, và vì sao quan sát phản ứng giá khác với suy luận về cung cầu.

Tác giả: Alpha X Trading Đăng: Cập nhật:

Phạm vi áp dụng: Biểu đồ nến OHLC thông thường theo thời gian. Dùng điểm xoay N = 2 và thời điểm biết của các bài trước. Cách lập vùng và các nhãn quan sát là "quy ước minh họa của bài", không phải định nghĩa chung. Mọi số liệu là giả định.

Quy ước dùng trong bài. Bài kế thừa điểm xoay đã xác nhận (N = 2, so sánh nghiêm ngặt, High và Low) và thời điểm biết của bài 1: điểm ở nến k chỉ biết sau nến k + 2 đóng. Mọi điều ghi “quy ước minh họa của bài” là cách làm của bài, không phải định nghĩa chung. Bài chỉ mô tả: không có quy tắc vào lệnh và không nói gì về xác suất.

Mục tiêu bài học

Sau bài này, bạn có thể:

  • Phân biệt một mức giá với một vùng giá, và nói vì sao nguồn khuyên dùng vùng khi cần.
  • Lập vùng hỗ trợ hoặc kháng cự từ các điểm xoay đã xác nhận, và nói vùng đó biết từ lúc nào.
  • Mô tả phản ứng của giá quanh một vùng bằng dữ liệu OHLC mà không mặc định vùng sẽ giữ, đổi vai hay tạo cơ hội giao dịch.
  • Tách quan sát (điều thấy trong số liệu) khỏi suy luận về cung cầu (một cách giải thích).

Nguồn nói gì và không nói gì

  • Khái niệm. StockCharts: hỗ trợ là mức giá tại đó cầu “được cho là” đủ mạnh để ngăn giá giảm thêm; kháng cự là mức mà lực bán “được cho là” đủ mạnh để ngăn giá tăng thêm. Wikipedia: các mức mà giá được cho là dừng và đảo chiều, thể hiện bởi nhiều lần giá chạm mà không vượt qua. Cả hai đều dùng cách nói “được cho là”: đó là một cách giải thích, không phải điều đo trực tiếp từ giá.
  • Mức hay vùng. StockCharts: vùng càng hẹp thì mức càng chính xác; khi biên độ lớn nên dùng vùng; và việc đặt mức chính xác thường khó. Wikipedia không nói mức là một giá hay một vùng.
  • Cách hình thành. StockCharts: hỗ trợ có thể lập từ các đáy phản ứng trước đó (kháng cự từ các đỉnh). Trang không nêu cần kiểm tra bao nhiêu lần.
  • Đổi vai. Cả hai nguồn nói một mức bị vượt qua có thể đổi vai (hỗ trợ thành kháng cự và ngược lại). StockCharts nói thêm rằng điều này không phải lúc nào cũng xảy ra, và hỗ trợ không phải lúc nào cũng giữ.
  • Không có trong các trang đã đọc: số lần chạm tối thiểu, công thức độ rộng vùng, ngưỡng để coi một mức là đã bị vượt (StockCharts chỉ nhắc một lần đóng cửa lệch nhỏ có thể không được coi là bị vượt), và tỷ lệ thành công. Wikipedia cũng không tổng kết bằng chứng về khả năng dự báo.
  • Khối lượng. Wikipedia có nhắc đến hành vi khối lượng (volume behaviour) và Volume Profile. Bài này không mở rộng sang đó: bài chỉ dùng OHLC, không sử dụng dữ liệu khối lượng hoặc lệnh để kiểm chứng cách giải thích về cung cầu.

Quy ước minh họa của bài

Đây là quy ước minh họa của bài, cố ý đơn giản. Ngoài N = 2 đã kế thừa, bài chỉ thêm các quy ước dưới đây:

  1. Điểm phản ứng. Dùng điểm xoay đã xác nhận làm “đáy phản ứng” hoặc “đỉnh phản ứng” (theo cách StockCharts nói về đáy và đỉnh phản ứng trước đó).
  2. Lập vùng. Vùng hỗ trợ lập từ hai đáy xoay đã xác nhận cùng loại gần nhất tại thời điểm lập: vùng chạy từ Low thấp hơn đến Low cao hơn của hai đáy. Vùng kháng cự lập từ hai đỉnh, từ High thấp hơn đến High cao hơn. Con số “hai” là quy ước của bài vì nguồn không nêu số lần chạm tối thiểu.
  3. Không đặt dung sai. Bài không đặt ngưỡng “đủ hẹp”. Độ rộng vùng chỉ là chênh lệch giữa hai điểm và được báo cáo. Hai điểm xa nhau cho vùng rộng, và theo StockCharts vùng càng hẹp thì mức càng chính xác. Bài không nói rộng bao nhiêu thì không dùng được.
  4. Thời điểm biết. Vùng biết sau khi nến đóng muộn hơn của hai điểm (k + 2). Vùng chốt tại thời điểm lập và không chỉnh theo nến sau. Khi có điểm xoay mới, bạn lập vùng mới tại thời điểm đó; đó là một phân tích mới, không phải sửa vùng cũ.
  5. Mô tả phản ứng. Với mỗi nến sau thời điểm lập, bài chỉ ghi quan hệ với vùng: với hỗ trợ là “Low trong vùng”, “Low dưới vùng” và Close “trên”, “trong” hay “dưới” vùng; với kháng cự dùng High thay cho Low. Bài không gọi đó là “giữ” hay “phá”, vì nguồn không nêu ngưỡng để đo.
  6. High–Low, không phải giá đóng. Điểm xoay dùng High và Low. Dùng giá đóng để lập vùng là một biến thể bài không kiểm chứng.

Mức giá và vùng giá

Ở ví dụ A dưới đây, hai đáy xoay có Low là 100 và 100,8. Nếu chỉ lấy đáy thấp nhất, bạn có một mức 100. Nếu lấy cả hai, bạn có một vùng từ 100 đến 100,8, rộng 0,8, trong khi nhịp đi lên giữa hai đáy dài khoảng 8. Nến 22 có Low 100,6 nằm trong vùng nhưng cách mức 100 là 0,6. Cách nói bằng vùng cho phép mô tả nến đó mà không cần quyết định “có chạm đúng mức 100 hay không”.

Quan sát phản ứng giá và suy luận về cung cầu

Cùng một đoạn số liệu có hai cách đọc khác bản chất:

Quan sát (đọc thẳng từ OHLC)Suy luận về cung cầu (giả thuyết)
Nến 22 và 23 có Low trong vùng 100–100,8“Cầu đủ mạnh ở vùng này”
Close của nến 24, 25, 26 cao dần: 103; 105; 106,5“Người mua kiểm soát sau khi chạm vùng”
Không nến nào từ nến 15 đến 26 có Low dưới vùng hay Close dưới vùng“Vùng hỗ trợ đang giữ”

Cột trái là dữ liệu. Cột phải là cách giải thích, đúng kiểu “được cho là” mà nguồn dùng. OHLC không có thông tin về lệnh, người mua hay người bán, nên bài không kiểm chứng được cột phải. Bài cũng không nói giải thích nào là đúng, và không nói vùng sẽ tiếp tục như vậy.

Ví dụ A: vùng hỗ trợ

Số liệu giả định, thứ tự Mở – Cao – Thấp – Đóng. Khung (nến ngày) là giả định.

Số liệu của ví dụ A (Mở – Cao – Thấp – Đóng)
NếnMở – Cao – Thấp – Đóng
1101,5 – 103 – 101 – 102,5
2101,5 – 102 – 100,5 – 101
3101 – 101 – 100 – 100,5
4101,5 – 103 – 101 – 102,5
5103 – 105 – 102,5 – 104,5
6105 – 107 – 104 – 106,5
7106 – 108 – 105,5 – 107,5
8106,5 – 107 – 104,5 – 105
9105 – 105,5 – 103 – 103,5
10103,5 – 104 – 102 – 102,5
11102,5 – 103 – 101,5 – 102
12102 – 102,5 – 100,8 – 101
13102,5 – 104 – 101,8 – 103,5
14104 – 106 – 103,5 – 105,5
15106 – 108 – 105,5 – 107,5
16107,5 – 109 – 107 – 108,5
17108 – 109,5 – 107,5 – 109
18108 – 108,5 – 106 – 106,5
19106,5 – 107 – 104,5 – 105
20105 – 105,5 – 103 – 103,5
21103,5 – 104 – 102 – 102,5
22102,5 – 103 – 100,6 – 101
23101,5 – 102 – 100,3 – 100,5
24102 – 103,5 – 101,5 – 103
25103,5 – 105,5 – 103 – 105
26105 – 107 – 104,5 – 106,5

Quy ước màu của các hình trong bài này: nến tăng (đóng cao hơn mở) tô xanh ngọc, nến giảm (đóng thấp hơn mở) tô đỏ san hô, nến doji (đóng bằng mở) tô xám sáng. Màu chỉ là quy ước của các hình này; nền tảng khác có thể tô khác, nên hãy đọc theo nhãn trong hình và theo số liệu Mở – Cao – Thấp – Đóng.

Hai mươi sáu nến. Đáy xoay ở nến 3 (Low 100) và nến 12 (Low 100,8) tạo vùng hỗ trợ từ 100 đến 100,8, biết sau nến 14. Nến 22 và 23 có Low nằm trong vùng và không nến nào đóng dưới vùng. Hình 1. Ví dụ A: vùng hỗ trợ lập tại nến 14 (nền xanh nhạt), hai đáy lập vùng (chấm xanh), các nến có Low trong vùng (chấm cam rỗng) (ví dụ giả định).

Tại nến 14 (đáy nến 12 vừa được xác nhận), các điểm xoay đã biết:

ĐiểmỞ nếnGiáBiết sau khi đóng nến
Đáy31005
Đỉnh71089
Đáy12100,814

Hai đáy xoay gần nhất là nến 3 (100) và nến 12 (100,8): vùng hỗ trợ từ 100 đến 100,8, rộng 0,8, biết sau nến 14. Vùng chốt tại đây.

Quan sát các nến sau (nến 21 đến 26):

NếnMở – Cao – Thấp – ĐóngQuan sát so với vùng
21103,5 – 104 – 102 – 102,5Close trên vùng
22102,5 – 103 – 100,6 – 101Low trong vùng; Close trên vùng
23101,5 – 102 – 100,3 – 100,5Low trong vùng; Close trong vùng
24102 – 103,5 – 101,5 – 103Close trên vùng
25103,5 – 105,5 – 103 – 105Close trên vùng
26105 – 107 – 104,5 – 106,5Close trên vùng
  • Quan sát: từ nến 15 đến 26, không nến nào có Low dưới vùng hoặc Close dưới vùng. Nến 22 và 23 có Low trong vùng; nến 23 đóng trong vùng (100,5); nến 24, 25, 26 đóng trên vùng, lần lượt ở 103; 105; 106,5.
  • Chưa kết luận: đây là mô tả phản ứng của một đoạn giá giả định. Bài không nói vùng sẽ giữ lần sau.
  • Phân tích mới tại nến 25: đáy nến 23 (Low 100,3) được xác nhận sau nến 25. Lập vùng mới tại nến 25 từ hai đáy gần nhất (nến 12 và nến 23) cho vùng từ 100,3 đến 100,8, hẹp hơn. Vùng chốt tại nến 14 không bị sửa.

Ví dụ B: vùng kháng cự

Số liệu của ví dụ B (Mở – Cao – Thấp – Đóng)
NếnMở – Cao – Thấp – Đóng
1107,5 – 109 – 107 – 108,5
2108,5 – 109,5 – 108 – 109
3109,5 – 110 – 109 – 110
4108,5 – 109 – 107 – 107,5
5107 – 107,5 – 105 – 105,5
6105,5 – 106 – 103 – 104
7104 – 104,5 – 102 – 102,5
8103,5 – 105,5 – 103 – 105
9105 – 107 – 104,5 – 106,5
10106,5 – 108 – 106 – 107,5
11107,5 – 108,5 – 107 – 108
12108 – 109,2 – 107,5 – 109
13107,5 – 108,2 – 106 – 106,5
14106 – 106,5 – 104 – 104,5
15104 – 104,5 – 102 – 102,5
16102,5 – 103 – 101 – 101,5
17102 – 102,5 – 100,5 – 101
18102 – 104 – 101,5 – 103,5
19103,5 – 105,5 – 103 – 105
20105 – 107 – 104,5 – 106,5
21106,5 – 108 – 106 – 107,5
22107,5 – 109,4 – 107 – 109
23108,5 – 109,7 – 108 – 109,5
24108 – 108,5 – 106,5 – 107
25106,5 – 107 – 104,5 – 105
26105 – 105,5 – 103 – 103,5

Hai mươi sáu nến. Đỉnh xoay ở nến 3 (High 110) và nến 12 (High 109,2) tạo vùng kháng cự từ 109,2 đến 110, biết sau nến 14. Nến 22 và 23 có High nằm trong vùng và không nến nào đóng trên vùng. Hình 2. Ví dụ B: vùng kháng cự lập tại nến 14, các nến có High trong vùng (chấm cam rỗng) (ví dụ giả định).

Hai đỉnh xoay gần nhất là nến 3 (High 110) và nến 12 (High 109,2): vùng kháng cự từ 109,2 đến 110, rộng 0,8, biết sau nến 14. Với kháng cự bài dùng High thay cho Low:

NếnMở – Cao – Thấp – ĐóngQuan sát so với vùng
21106,5 – 108 – 106 – 107,5Close dưới vùng
22107,5 – 109,4 – 107 – 109High trong vùng; Close dưới vùng
23108,5 – 109,7 – 108 – 109,5High trong vùng; Close trong vùng
24108 – 108,5 – 106,5 – 107Close dưới vùng
25106,5 – 107 – 104,5 – 105Close dưới vùng
26105 – 105,5 – 103 – 103,5Close dưới vùng
  • Quan sát: nến 22 và 23 có High trong vùng; nến 23 đóng trong vùng; không nến nào có High trên vùng hay Close trên vùng sau nến 14; các nến 24 đến 26 đóng dưới vùng.
  • Ví dụ B là ảnh phản chiếu giá của ví dụ A, nên nó chỉ minh họa đổi vai trò của High và Low, không phải bằng chứng thứ hai.

Ví dụ C: giá xuyên vùng rồi quay lại

Ví dụ C giống ví dụ A đến nến 21, nên vùng hỗ trợ chốt tại nến 14 vẫn là 100 đến 100,8. Các nến 22 đến 26 khác.

Số liệu của ví dụ C (Mở – Cao – Thấp – Đóng)
NếnMở – Cao – Thấp – Đóng
1101,5 – 103 – 101 – 102,5
2101,5 – 102 – 100,5 – 101
3101 – 101 – 100 – 100,5
4101,5 – 103 – 101 – 102,5
5103 – 105 – 102,5 – 104,5
6105 – 107 – 104 – 106,5
7106 – 108 – 105,5 – 107,5
8106,5 – 107 – 104,5 – 105
9105 – 105,5 – 103 – 103,5
10103,5 – 104 – 102 – 102,5
11102,5 – 103 – 101,5 – 102
12102 – 102,5 – 100,8 – 101
13102,5 – 104 – 101,8 – 103,5
14104 – 106 – 103,5 – 105,5
15106 – 108 – 105,5 – 107,5
16107,5 – 109 – 107 – 108,5
17108 – 109,5 – 107,5 – 109
18108 – 108,5 – 106 – 106,5
19106,5 – 107 – 104,5 – 105
20105 – 105,5 – 103 – 103,5
21103,5 – 104 – 102 – 102,5
22102 – 102,5 – 99,2 – 101,5
23101,5 – 101,8 – 98,8 – 99,5
2499,5 – 101,8 – 99 – 101,5
25101,5 – 104 – 101,2 – 103,5
26103,5 – 105,5 – 103 – 105

Hai mươi sáu nến. Vùng hỗ trợ từ 100 đến 100,8 lập từ đáy nến 3 và nến 12, biết sau nến 14. Nến 22, 23 và 24 có Low dưới vùng. Nến 23 đóng dưới vùng. Nến 24 đóng lại trên vùng. Hình 3. Ví dụ C: Low dưới vùng ở nến 22, 23, 24 (chấm cam), nến 23 đóng dưới vùng, nến 24 đóng lại trên vùng (ví dụ giả định).

NếnMở – Cao – Thấp – ĐóngQuan sát so với vùng
21103,5 – 104 – 102 – 102,5Close trên vùng
22102 – 102,5 – 99,2 – 101,5Low dưới vùng; Close trên vùng
23101,5 – 101,8 – 98,8 – 99,5Low dưới vùng; Close dưới vùng
2499,5 – 101,8 – 99 – 101,5Low dưới vùng; Close trên vùng
25101,5 – 104 – 101,2 – 103,5Close trên vùng
26103,5 – 105,5 – 103 – 105Close trên vùng
  • Quan sát: Low dưới vùng ở nến 22, 23 và 24. Nến 23 đóng dưới vùng (99,5 so với 100). Nến 24 đóng lại trên vùng (101,5 so với 100,8), và các nến 25, 26 cũng đóng trên vùng.
  • Điểm xoay mới: đáy nến 23 (Low 98,8) được xác nhận sau nến 25 và nằm dưới vùng.
  • Bài không gọi đây là “vùng bị phá” hay “phá vỡ giả”, vì nguồn không nêu ngưỡng để coi là bị phá và StockCharts nhắc một lần đóng cửa lệch nhỏ có thể không được coi là bị phá. Bài cũng không nói điều gì sẽ xảy ra sau nến 26.
  • Ví dụ A và C giống nhau đến nến 21 rồi đi khác. Hai ví dụ giả định minh họa rằng cùng một vùng có thể đi kèm các diễn biến khác nhau; chúng không phải bằng chứng thực nghiệm.

Ví dụ D: chưa đủ dữ liệu

Ví dụ D là 13 nến đầu của ví dụ A, tại thời điểm nến 13 vừa đóng.

Mười ba nến đầu của ví dụ A. Chỉ có một đáy xoay đã xác nhận, nến 3 với Low 100. Nến 12 có Low 100,8 chỉ là ứng viên vì mới có một nến phía sau, nên chưa lập được vùng. Hình 4. Ví dụ D: mới có một đáy xoay đã xác nhận (chấm xanh); đáy nến 12 chỉ là ứng viên (chấm rỗng) (ví dụ giả định).

ĐiểmỞ nếnGiáBiết sau khi đóng nến
Đáy31005
Đỉnh71089
  • Chỉ có một đáy xoay đã xác nhận (nến 3, Low 100). Quy ước của bài cần hai.
  • Nến 12 có Low 100,8 thấp hơn các nến xung quanh nhưng mới có một nến phía sau (nến 13), nên chỉ là ứng viên. Dùng nó để nói “đã có vùng 100–100,8” là dùng một điểm chưa xác nhận như dữ liệu đã biết.
  • Kết luận: chưa lập được vùng tại nến 13. Ở ví dụ A, nến 14 sau đó xác nhận đáy nến 12; điều này chỉ nhìn thấy khi có nến 14. Nếu nến 14 có Low không cao hơn 100,8 thì theo quy tắc nghiêm ngặt nến 12 không là điểm xoay.

Giới hạn của bài này

  • Vùng lập từ hai điểm xoay là quy ước của bài. Nguồn không nêu số lần chạm tối thiểu, và bài không so sánh các cách lập vùng khác.
  • Bài không đặt ngưỡng cho độ rộng vùng. Hai điểm xa nhau cho vùng rất rộng, và khi đó mô tả quanh vùng ít có ý nghĩa.
  • Bài chỉ mô tả phản ứng giá; không gọi là “giữ” hay “phá”, không nói vùng sẽ đổi vai, và không nói vùng tạo cơ hội giao dịch.
  • Điểm xoay luôn trễ so với giá, nên vùng luôn được biết sau thời điểm điểm xoay xuất hiện.
  • Các ví dụ là giả định (B là phản chiếu của A, C và D dùng nến của A). Bài này chỉ dùng OHLC, không sử dụng dữ liệu khối lượng hoặc lệnh để kiểm chứng cách giải thích về cung cầu, nên mọi suy luận về cung cầu chỉ là giả thuyết.
  • Bài chưa nói về vùng cung cầu hay thuật ngữ của một trường phái cụ thể.

Tóm tắt

  • Nguồn mô tả hỗ trợ và kháng cự bằng cách nói “được cho là”; đó là cách giải thích, không phải điều đo trực tiếp.
  • Một mức là một giá; một vùng là một đoạn giá. StockCharts nói vùng càng hẹp thì mức càng chính xác và khuyên dùng vùng khi biên độ lớn.
  • Bài lập vùng từ hai điểm xoay đã xác nhận cùng loại gần nhất; vùng biết sau nến k + 2 của điểm muộn hơn và chốt tại thời điểm đó.
  • Phản ứng giá chỉ được mô tả (Low hoặc High trong vùng, Close trên, trong hoặc dưới vùng); suy luận về cung cầu là giả thuyết riêng.
  • Giá có thể xuyên vùng rồi đóng cửa lại trên vùng; vùng không mặc định giữ, đổi vai hay tạo cơ hội giao dịch.
  • Chưa đủ hai điểm xoay đã xác nhận thì chưa lập được vùng.

Ôn tập

Hãy tự làm trước, rồi mở phần đáp án. Dùng quy ước của bài.

Bài tập 1 (lập vùng và thời điểm biết). Dùng bảng số liệu ví dụ A. (a) Tại nến 14, vùng hỗ trợ là bao nhiêu và biết sau nến nào? (b) Tại nến 25, có thông tin mới nào, và vùng cũ có thay đổi không?

Xem đáp án
  • (a) Tại nến 14, hai đáy xoay đã xác nhận gần nhất là nến 3 (Low 100, biết sau nến 5) và nến 12 (Low 100,8, biết sau nến 14). Vùng hỗ trợ 100 đến 100,8, rộng 0,8, biết sau nến 14 (nến đóng muộn hơn của hai điểm).
  • (b) Đáy nến 23 (Low 100,3) được xác nhận sau nến 25. Vùng đã chốt tại nến 14 không đổi. Nếu lập vùng mới tại nến 25 từ hai đáy gần nhất (nến 12 và nến 23) thì được vùng 100,3 đến 100,8; đó là một phân tích mới tại nến 25. Đáy nến 23 nằm trong vùng cũ nên cũng là một lần phản ứng giá nằm trong vùng.

Bài tập 2 (chưa đủ dữ liệu). Dùng 13 nến đầu của ví dụ A. Một người nói: “Tại nến 13 đã có vùng hỗ trợ 100 đến 100,8.” Nhận xét.

Xem đáp án
  • Tại nến 13 chỉ có một đáy xoay đã xác nhận (nến 3). Đáy nến 12 (Low 100,8) mới có một nến phía sau nên chỉ là ứng viên.
  • Câu nói dùng một điểm chưa xác nhận như dữ liệu đã biết. Theo quy ước của bài, chưa lập được vùng tại nến 13.
  • Con số 100,8 trùng với kết quả ở nến 14 chỉ vì ví dụ A tiếp tục thuận lợi. Nếu nến 14 có Low không cao hơn 100,8 thì nến 12 không là điểm xoay. Người ở nến 13 không biết trước điều đó.
  • Cách nói hợp lệ: “tại nến 13 mới có một đáy xoay xác nhận (100) và một ứng viên (100,8), chưa lập được vùng”.

Bài tập 3 (quan sát và suy luận). Dùng ví dụ C với vùng hỗ trợ 100 đến 100,8 chốt tại nến 14. Gán nhãn “quan sát” hoặc “suy luận / chưa kết luận” cho các câu: (1) “Nến 23 đóng dưới vùng.” (2) “Nến 24 đóng lại trên vùng.” (3) “Vùng hỗ trợ đã bị phá.” (4) “Người mua đã quay lại ở nến 24.” (5) “Giá sẽ tiếp tục đi lên.”

Xem đáp án
  1. Quan sát. Close nến 23 là 99,5, dưới đáy vùng 100.
  2. Quan sát. Close nến 24 là 101,5, trên đỉnh vùng 100,8.
  3. Chưa kết luận. Bài không định nghĩa “bị phá” vì nguồn không nêu ngưỡng; nến 23 đóng dưới vùng nhưng nến 24 đóng lại trên vùng. Có thể mô tả từng nến, không cần gọi chung là “bị phá”.
  4. Suy luận (giả thuyết về cung cầu). OHLC không có thông tin về người mua.
  5. Suy luận về tương lai. Dữ liệu đến nến 26 không đủ để nói điều đó, và bài không đưa xác suất.

Bài tập 4 (đổi vai có xảy ra không?). Vùng hỗ trợ 100 đến 100,8 (chốt từ trước). Giá đã đóng dưới vùng: bốn nến sau đều đóng dưới 100 (đề không gọi đó là “bị phá”):

NếnMở – Cao – Thấp – Đóng
1101,5 – 102 – 98,5 – 99
299 – 99,6 – 97,5 – 98
398 – 99 – 97,8 – 98,8
498,8 – 100,2 – 98,5 – 99,6

Nến 5 có hai phương án: x là 99,6 – 100,5 – 98,9 – 99,2; y là 99,6 – 102,5 – 99,4 – 102. Hãy mô tả từng phương án so với vùng (quan sát), nêu diễn giải của bạn về từng phương án và phân biệt nó với quan sát, và cho biết bài có mặc định đổi vai xảy ra không.

Xem đáp án

Với vùng cũ, bài dùng High và Close (như với kháng cự):

NếnMở – Cao – Thấp – ĐóngQuan sát so với vùng
1101,5 – 102 – 98,5 – 99High trên vùng; Close dưới vùng
299 – 99,6 – 97,5 – 98Close dưới vùng
398 – 99 – 97,8 – 98,8Close dưới vùng
498,8 – 100,2 – 98,5 – 99,6High trong vùng; Close dưới vùng
5 (phương án x)99,6 – 100,5 – 98,9 – 99,2High trong vùng; Close dưới vùng
5 (phương án y)99,6 – 102,5 – 99,4 – 102High trên vùng; Close trên vùng
  • Quan sát:
    • Phương án x: High 100,5 nằm trong vùng, Close 99,2 dưới vùng.
    • Phương án y: High 102,5 trên vùng và Close 102 trên vùng.
  • Diễn giải (dựa trên dữ liệu, không phải quan sát thuần túy):
    • Phương án x phù hợp với một biểu hiện của vùng cũ cản giá từ phía dưới: giá đi lên tới vùng rồi đóng lại dưới nó. Nó chưa xác nhận đổi vai.
    • Với phương án y, chỉ nói được rằng nến đang xét không thể hiện phản ứng cản giá như x. Bài không kết luận về mọi diễn biến sau đó.
  • Bài không mặc định đổi vai xảy ra. StockCharts nói điều đó không phải lúc nào cũng xảy ra. Một nến giống x không chứng minh vùng “đổi vai” hay cho cơ hội giao dịch.
  • Phân biệt thêm: “người bán đã đẩy giá xuống” là suy luận về cung cầu; bài chỉ dùng OHLC nên không kiểm chứng được.

Nguồn tham khảo

Bài liên quan

  • Kiến thức trading Nội dung minh họa
    Lệnh thị trường và lệnh chờ khác nhau ở đâu

    Các loại lệnh phổ biến, điều mỗi loại ưu tiên và không bảo đảm, và những điểm dễ nhầm.

  • Kiến thức trading Nội dung minh họa
    Thị trường vận hành thế nào? Những khái niệm cơ bản nhất

    Giá hình thành từ đâu, ai đang mua bán, và vì sao giá di chuyển. Một bản đồ ngắn cho người mới.

  • Kiến thức trading
    Các dạng nến cơ bản

    Nến thân dài, thân ngắn, marubozu, spinning top, doji và các dạng doji phổ biến. Cách nhận diện, điểm dễ nhầm, điều quan sát được và giới hạn khi diễn giải. Định nghĩa có thể khác nhau giữa các tài liệu.

Đọc xong và muốn trao đổi, hỏi thêm hoặc chia sẻ cách bạn hiểu bài này?

Kết nối với Alpha X

← Về Thư viện · Lộ trình học