Bỏ qua tới nội dung
  1. Thư viện
  2. Kiến thức trading
  3. Bài viết
Kiến thức trading Cấu trúc thị trường Cấp độ: Nền tảng

Đỉnh và đáy trên biểu đồ được xác định như thế nào?

Điểm xoay (đỉnh và đáy cục bộ) là gì, một quy tắc minh họa dùng N nến mỗi bên, vì sao cần N nến đóng phía sau để xác nhận, và vì sao thời điểm xuất hiện khác thời điểm xác nhận.

Tác giả: Alpha X Trading Đăng: Cập nhật:

Phạm vi áp dụng: Biểu đồ nến OHLC thông thường theo thời gian. Quy tắc N nến mỗi bên là một quy tắc minh họa của bài, không phải định nghĩa chung. Mọi số liệu là giả định.

Quy ước dùng trong bài. “Đỉnh” và “đáy” trong bài này là điểm xoay cục bộ, không phải mức cao nhất hay thấp nhất của cả giai đoạn. Cách xác định điểm xoay dưới đây là quy tắc minh họa của bài, không phải định nghĩa chung. Các nguồn đã đọc cho thấy số nến N không có giá trị chung.

Mục tiêu bài học

Sau bài này, bạn có thể:

  • Giải thích vì sao cần một quy tắc rõ ràng để nói “đây là một đỉnh” hoặc “đây là một đáy”.
  • Áp dụng quy tắc N nến mỗi bên để tìm điểm xoay trên một chuỗi nến.
  • Phân biệt thời điểm một điểm xoay xuất hiện với thời điểm bạn có thể xác nhận nó.
  • Nói rõ N và cách xử lý giá trị bằng nhau khi mô tả điểm xoay.

Bài nối tiếp Nến đang chạy và nến đã đóng và Đọc nến trong bối cảnh.

Các nguồn nói gì và không nói gì

Fidelity mô tả xu hướng tăng là chuỗi “đỉnh và đáy cao dần”, xu hướng giảm là chuỗi “đỉnh và đáy thấp dần”. Investors Intelligence nhắc lại ý của Dow: giá đi theo các đường zigzag giống sóng, và chính vị trí tương đối của các đỉnh và đáy xác định xu hướng.

Nhưng Fidelity không giải thích cách tìm đỉnh hay đáy: trang không nói cần bao nhiêu nến ở mỗi bên, hay có dùng giá đóng hay không. Vì vậy trước khi nói về xu hướng (việc của các bài sau), ta cần một quy tắc để gọi một nến là điểm xoay.

Quy tắc minh họa: N nến mỗi bên

Tài liệu kỹ thuật của TA-Lib mô tả điểm xoay (swing high) là nến có High lớn hơn nghiêm ngặt High của một số nến liền trước và một số nến liền sau; với bộ mặc định, mỗi bên hai nến. LuxAlgo nêu cùng ý: số nến mỗi bên quyết định “mọi gợn nhỏ” hay “chỉ các điểm xoay lớn”, và không có thiết lập chung.

Bài dùng quy tắc sau làm quy tắc minh họa (viết là N, bài chọn N = 2):

  • Điểm xoay đỉnh tại nến k: High của nến k lớn hơn High của N nến liền trước và N nến liền sau (so sánh nghiêm ngặt).
  • Điểm xoay đáy tại nến k: Low của nến k nhỏ hơn Low của N nến liền trước và N nến liền sau (so sánh nghiêm ngặt).
  • Dùng High và Low (bóng nến), không dùng giá đóng.
  • Nếu trong N nến bên trái hoặc N nến bên phải đang xét có một High bằng High của nến đó, nến đó không thỏa so sánh nghiêm ngặt nên không là điểm xoay đỉnh. Với đáy, áp dụng tương tự cho Low. Hai đỉnh bằng giá nhưng nằm ngoài N nến của nhau thì không loại nhau. Cách xử lý giá trị bằng nhau là lựa chọn của bài; TA-Lib nói so sánh nghiêm ngặt, LuxAlgo không nêu rõ.
  • Đỉnh và đáy được xét độc lập. Một nến có thể đạt cả hai điều kiện (ví dụ nến có High cao nhất và Low thấp nhất trong cửa sổ của nó). Quy tắc này cũng không bảo đảm các điểm xoay luân phiên đỉnh, đáy, đỉnh, đáy: có thể có hai đỉnh liên tiếp mà không có đáy giữa chúng (xem N = 1 ở Hình 3: đỉnh nến 2 và đỉnh nến 6).

Ví dụ: 15 nến

Số liệu giả định, thứ tự Mở – Cao – Thấp – Đóng:

NếnMở – Cao – Thấp – Đóng
1100 – 102 – 99 – 101
2101 – 105 – 100,5 – 104,5
3104,5 – 104,8 – 102,5 – 103
4103 – 106 – 102,8 – 105,5
5105,5 – 108 – 105 – 107,5
6107,5 – 109,5 – 106,5 – 108,5
7108,5 – 109 – 105,5 – 106
8106 – 107 – 104 – 104,5
9104,5 – 105 – 101,5 – 102
10102 – 103 – 100 – 100,5
11100,5 – 103,5 – 100,5 – 103
12103 – 105,5 – 102,5 – 105
13105 – 107 – 104,5 – 106,5
14106,5 – 107,5 – 105 – 105,5
15105,5 – 106 – 103 – 103,5

Quy ước màu của các hình trong bài này: nến tăng (đóng cao hơn mở) tô xanh ngọc, nến giảm (đóng thấp hơn mở) tô đỏ san hô, nến doji (đóng bằng mở) tô xám sáng. Màu chỉ là quy ước của các hình này; nền tảng khác có thể tô khác, nên hãy đọc theo nhãn trong hình và theo số liệu Mở – Cao – Thấp – Đóng.

Mười lăm nến. Nến 6 là đỉnh, nến 10 là đáy theo quy tắc hai nến mỗi bên. Nến 14 là ứng viên đỉnh nhưng mới có một nến phía sau nên chưa xác nhận. Hình 1. Các điểm xoay theo quy tắc N = 2. Chấm đặc: đã xác nhận. Chấm rỗng: ứng viên chưa đủ nến phía sau (ví dụ giả định).

Áp dụng quy tắc với N = 2:

  • Nến 6 là đỉnh. High 109,5 lớn hơn High của nến 4 (106), 5 (108), 7 (109) và 8 (107).
  • Nến 10 là đáy. Low 100 nhỏ hơn Low của nến 8 (104), 9 (101,5), 11 (100,5) và 12 (102,5).
  • Nến 14 có High 107,5, cao hơn nến 12 (105,5), 13 (107) và 15 (106), nhưng quy tắc cần hai nến sau và mới có một. Nến 14 là ứng viên, chưa thể xác nhận.

Nến 2 (High 105) và nến 4 (High 106) trông như đỉnh nhỏ, nhưng với N = 2 không nến nào đủ điều kiện: nến 2 không có hai nến phía trước, và nến 4 thấp hơn nến 5 và 6.

Thời điểm xuất hiện khác thời điểm xác nhận

Điểm xoay đỉnh ở nến 6 xuất hiện khi nến 6 hình thành. Nhưng bạn chỉ có thể xác nhận nó theo quy tắc khi nến 8 đã đóng: cần hai nến sau nến 6 đều có High thấp hơn. LuxAlgo nêu cùng điều đó: điểm xoay “chỉ biết sau khi các nến bên phải đã đóng”; TA-Lib ghi giá trị ở nến cách điểm xoay đúng R nến.

Điểm xoayXuất hiện ởXác nhận sau khi đóng nến
Đỉnhnến 6nến 8
Đáynến 10nến 12

Hai khung. Khung trên: người đọc chỉ có nến 1 đến 6; nến 6 là ứng viên đỉnh, chưa xác nhận vì chưa có hai nến phía sau. Khung dưới: có nến 1 đến 8; nến 6 đã được xác nhận là đỉnh vì hai nến sau đều có High thấp hơn. Hình 2. Cùng nến 6 ở hai thời điểm: khi nến 6 vừa đóng chỉ là ứng viên, khi nến 8 đóng mới xác nhận (ví dụ giả định).

Hệ quả khi đọc biểu đồ:

  • Lúc nến 6 vừa đóng, bạn chưa biết nó có là đỉnh theo quy tắc hay không. Nó mới là ứng viên. Nếu nến 7 hoặc 8 có High cao hơn 109,5, nến 6 sẽ không đạt điều kiện để được xác nhận; nó chưa từng là điểm xoay đã xác nhận (xem bài tập 3).
  • Đánh dấu hồi cứu hợp lệ: sau khi nến 8 đã đóng, bạn đánh dấu nến 6 là đỉnh và ghi rõ “biết từ lúc nến 8 đóng”. Cách ghi này đúng về thời điểm biết, dùng được để mô tả hay nghiên cứu.
  • Dùng dữ liệu tương lai sai cách: coi như người đọc đã biết nến 6 là đỉnh ngay ở nến 6 (hoặc ở nến 7), rồi dùng điều đó cho một kết luận ở thời điểm ấy. Người đọc ở nến 6 không có dữ liệu của nến 7 và 8. Đây là dạng thiên lệch nhìn lại đã nói ở Đọc nến trong bối cảnh.
  • LuxAlgo cảnh báo rằng kiểm thử một ý tưởng bằng cách hành động ngay tại nến xoay là dùng “thông tin chưa có trong thời gian thực”.

Giá trị N thay đổi kết quả

Hai khung trên cùng mười lăm nến. Với N bằng 1 có thêm đỉnh ở nến 2 và nến 14. Với N bằng 2 chỉ có đỉnh ở nến 6 và đáy ở nến 10, và nến 14 là ứng viên. Hình 3. Cùng dữ liệu, N = 1 cho đỉnh ở nến 2, 6, 14 và đáy ở nến 10; N = 2 cho đỉnh nến 6 và đáy nến 10, nến 14 còn là ứng viên (ví dụ giả định).

N nhỏ cho nhiều điểm xoay và xác nhận sớm hơn; N lớn cho ít điểm xoay hơn và xác nhận muộn hơn. Không có giá trị N “đúng” chung (LuxAlgo nói không có thiết lập chung). Vì vậy khi mô tả một chuỗi đỉnh và đáy, hãy ghi rõ N và cách xử lý giá trị bằng nhau.

Giới hạn của bài này

  • Bài chỉ nói cách xác định điểm xoay. Việc một chuỗi điểm xoay là xu hướng tăng, giảm hay đi ngang là nội dung của bài sau.
  • Quy tắc N nến mỗi bên là một cách. Các nguồn đã đọc không so sánh nó với cách khác, và bài không khẳng định nó tốt hơn.
  • Bài không dùng thuật ngữ của một trường phái cụ thể làm định nghĩa chung.
  • Bài không nói điểm xoay có ý nghĩa dự báo hay không.

Tóm tắt

  • Fidelity và Investors Intelligence mô tả xu hướng qua chuỗi đỉnh và đáy nhưng không đưa thuật toán xác định điểm xoay; TA-Lib có mô tả thuật toán (so sánh với N nến mỗi bên).
  • Điểm xoay theo quy tắc minh họa: High (hoặc Low) lớn hơn (nhỏ hơn) nghiêm ngặt của N nến mỗi bên.
  • Điểm xoay chỉ xác nhận được sau N nến đóng phía sau; trước đó nó chỉ là ứng viên.
  • Đánh dấu hồi cứu là hợp lệ nếu ghi rõ thời điểm biết (nến k + N); sai khi coi như đã biết ngay ở nến k.
  • Đỉnh và đáy được xét độc lập; quy tắc không bảo đảm chúng luân phiên.
  • N và cách xử lý giá trị bằng nhau cần được nêu rõ khi mô tả.

Ôn tập

Hãy tự làm trước, rồi mở phần đáp án. Dùng quy tắc minh họa của bài với N = 2.

Bài tập 1 (tìm điểm xoay). Chín nến (Mở – Cao – Thấp – Đóng):

NếnMở – Cao – Thấp – Đóng
150 – 52 – 49 – 51
251 – 54 – 50,5 – 53
353 – 57 – 52,5 – 56
456 – 58 – 55 – 55,5
555,5 – 56 – 52 – 52,5
652,5 – 53 – 49,5 – 50
750 – 51,5 – 47 – 48
848 – 51 – 47,5 – 50,5
950,5 – 52 – 49,5 – 51,5

Tìm các điểm xoay đỉnh và đáy. Mỗi điểm xoay được xác nhận sau khi đóng nến nào?

Xem đáp án
  • Đỉnh ở nến 4: High 58 lớn hơn High của nến 2 (54), 3 (57), 5 (56) và 6 (53). Xác nhận sau khi nến 6 đóng.
  • Đáy ở nến 7: Low 47 nhỏ hơn Low của nến 5 (52), 6 (49,5), 8 (47,5) và 9 (49,5). Xác nhận sau khi nến 9 đóng.
  • Nến 3 (High 57) không phải đỉnh vì nến 4 có High 58 cao hơn. Nến 8 (Low 47,5) không phải đáy vì nến 7 có Low 47 thấp hơn.

Quan sát: theo quy tắc N = 2 có một đỉnh và một đáy. Nến 1, 2, 8, 9 không đủ nến ở một phía hoặc không thỏa so sánh.

Bài tập 2 (giá trị bằng nhau). Bảy nến (Mở – Cao – Thấp – Đóng):

NếnMở – Cao – Thấp – Đóng
160 – 61 – 59 – 60,5
260,5 – 62 – 60 – 61,5
361,5 – 64 – 61 – 63,5
463,5 – 64 – 62 – 62,5
562,5 – 63 – 60,5 – 61
661 – 62 – 59,5 – 60
760 – 61 – 58,5 – 59,5

Nến 3 và nến 4 cùng có High 64. Theo quy tắc của bài, có điểm xoay đỉnh nào ở đây không? Nếu đổi quy tắc thành “lớn hơn hoặc bằng”, kết quả thay đổi thế nào?

Xem đáp án
  • Theo quy tắc của bài (lớn hơn nghiêm ngặt): nến 4 nằm trong N = 2 nến bên phải của nến 3 và có High 64 bằng High nến 3, nên nến 3 không lớn hơn nến 4; nến 3 cũng nằm trong N nến bên trái của nến 4 nên nến 4 không lớn hơn nến 3. Không có điểm xoay đỉnh. Kết luận này chỉ vì hai High bằng nhau nằm trong N nến của nhau, không phải vì mọi High bằng nhau đều bị loại.
  • Nếu đổi thành “lớn hơn hoặc bằng”: cả nến 3 (so với nến 1, 2, 4, 5) và nến 4 (so với nến 2, 3, 5, 6) đều thỏa, cho hai điểm xoay đỉnh liền kề cùng mức 64.
  • Kết luận: hai quy tắc cho hai kết quả trên cùng dữ liệu. TA-Lib mô tả so sánh nghiêm ngặt; LuxAlgo không nêu cách xử lý giá trị bằng nhau. Bạn cần ghi rõ quy tắc bạn dùng. Đây là lựa chọn của bài, không phải chuẩn chung.

Bài tập 3 (xuất hiện và xác nhận). Tám nến (Mở – Cao – Thấp – Đóng):

NếnMở – Cao – Thấp – Đóng
174 – 75 – 73 – 74,5
274,5 – 76,5 – 74 – 76
376 – 78 – 75,5 – 77,5
477,5 – 79 – 77 – 78,5
578,5 – 80 – 77,5 – 78
678 – 79 – 76,5 – 77
777 – 81 – 76,8 – 80,5
880,5 – 80,8 – 78,5 – 79

Hãy nói, ở từng thời điểm sau, nến 5 và nến 7 ở trạng thái nào: (a) nến 6 vừa đóng; (b) nến 7 vừa đóng; (c) nến 8 vừa đóng. Nếu có nến 9 là 79 – 80 – 77,5 – 78 thì sao?

Xem đáp án
  • (a) Nến 6 vừa đóng: nến 5 (High 80) cao hơn nến 3 (78), 4 (79) và 6 (79), nhưng mới có một nến sau. Nến 5 là ứng viên, chưa xác nhận.
  • (b) Nến 7 vừa đóng: nến 7 có High 81, cao hơn 80 và nằm trong N = 2 nến bên phải của nến 5. Nến 5 không đạt điều kiện nên sẽ không bao giờ được xác nhận; nó chỉ từng là ứng viên ở bước (a). Một người đã đánh dấu nến 5 là đỉnh ở bước (a) đã coi ứng viên như điểm xoay đã xác nhận. Nến 7 trở thành ứng viên mới.
  • (c) Nến 8 vừa đóng: nến 7 (High 81) cao hơn nến 5 (80), 6 (79) và 8 (80,8), nhưng mới có một nến sau. Vẫn là ứng viên.
  • Nếu có nến 9 (High 80 < 81): nến 7 có đủ hai nến sau thấp hơn, nên xác nhận sau khi nến 9 đóng.

Quan sát: ở cả ba thời điểm, một điểm xoay đỉnh chỉ được xác nhận khi đủ hai nến sau. Chưa kết luận được: diễn biến sau nến 9; bài không nói điểm xoay nào đó có ý nghĩa dự báo.

Nguồn tham khảo

Bài liên quan

  • Kiến thức trading Nội dung minh họa
    Lệnh thị trường và lệnh chờ khác nhau ở đâu

    Các loại lệnh phổ biến, điều mỗi loại ưu tiên và không bảo đảm, và những điểm dễ nhầm.

  • Kiến thức trading Nội dung minh họa
    Thị trường vận hành thế nào? Những khái niệm cơ bản nhất

    Giá hình thành từ đâu, ai đang mua bán, và vì sao giá di chuyển. Một bản đồ ngắn cho người mới.

  • Kiến thức trading
    Các dạng nến cơ bản

    Nến thân dài, thân ngắn, marubozu, spinning top, doji và các dạng doji phổ biến. Cách nhận diện, điểm dễ nhầm, điều quan sát được và giới hạn khi diễn giải. Định nghĩa có thể khác nhau giữa các tài liệu.

Đọc xong và muốn trao đổi, hỏi thêm hoặc chia sẻ cách bạn hiểu bài này?

Kết nối với Alpha X

← Về Thư viện · Lộ trình học