- Thư viện
- Kiến thức trading
- Bài viết
Đỉnh cao hơn, đáy cao hơn: đọc chuỗi HH, HL, LH, LL
So sánh từng cặp điểm xoay thành HH, LH, HL, LL, tách kết quả so sánh khỏi kết luận về xu hướng, ghi rõ mỗi điểm nằm ở nến nào và chỉ biết sau nến nào, và xử lý trường hợp bằng giá, chưa đủ dữ liệu hay điểm xoay không luân phiên.
Phạm vi áp dụng: Biểu đồ nến OHLC thông thường theo thời gian. Dùng điểm xoay theo quy tắc minh họa của bài trước (N = 2). Các quy ước gọi là "quy ước thực hành của bài" không phải định nghĩa chung. Mọi số liệu là giả định.
Bài cần đọc trước
Quy ước dùng trong bài. Bài này kế thừa quy tắc điểm xoay của bài trước: High (hoặc Low) lớn hơn (nhỏ hơn) nghiêm ngặt của N = 2 nến mỗi bên. Chỉ dùng điểm đã xác nhận. Các phần ghi “quy ước thực hành của bài” là cách làm của bài, không phải định nghĩa chung. Bài không dùng thuật ngữ của trường phái cụ thể và không có quy tắc vào lệnh.
Mục tiêu bài học
Sau bài này, bạn có thể:
- So hai điểm xoay cùng loại để gọi là HH, LH, HL, LL, và xử lý trường hợp bằng giá.
- Nêu mỗi điểm nằm ở nến nào và chỉ được biết sau khi nến nào đóng.
- Phân biệt kết quả của từng cặp so sánh với một kết luận về xu hướng.
- Nhận ra khi dữ liệu chưa đủ, khi cấu trúc chưa rõ, và khi điểm xoay không luân phiên.
Nguồn nói gì
Fidelity mô tả xu hướng tăng gồm “đỉnh và đáy cao dần” (higher highs and higher lows) và xu hướng giảm gồm “đỉnh và đáy thấp dần” (lower highs and lower lows); xu hướng đi ngang là khi giá di chuyển trong một vùng nằm ngang. Investors Intelligence nói một cổ phiếu ở xu hướng tăng phải tạo được các đỉnh cao dần và đáy cao dần liên tiếp.
Các trang này không nêu cần bao nhiêu cặp để gọi là xu hướng, không nói cách xử lý giá bằng nhau, và (như bài trước đã nêu) Fidelity không giải thích cách tìm đỉnh, đáy. Vì vậy phần còn lại của bài tách hai việc: so sánh từng cặp điểm (có thể làm chính xác theo quy tắc) và kết luận về xu hướng (cần thêm quy ước, và bài chỉ dừng ở mức mô tả).
Gọi tên một cặp so sánh
Viết tắt tiếng Anh thường gặp: HH (higher high), LH (lower high), HL (higher low), LL (lower low). Trong bài này (quy ước thực hành của bài):
- Chỉ so đỉnh với đỉnh (bằng High) và đáy với đáy (bằng Low). Đỉnh không so với đáy.
- So điểm mới với điểm cùng loại đã xác nhận liền trước.
- Đỉnh sau cao hơn đỉnh trước: HH. Thấp hơn: LH.
- Đáy sau cao hơn đáy trước: HL. Thấp hơn: LL.
- Bằng giá: gọi là đỉnh bằng hoặc đáy bằng, không xếp vào HH, LH, HL hay LL. Các nguồn đã đọc không nêu cách xử lý, nên đây là lựa chọn của bài.
- Mỗi điểm xoay ở nến k chỉ biết sau khi nến k + 2 đóng. Một cặp so sánh chỉ biết sau khi cả hai điểm đã biết, tức sau nến đóng muộn hơn trong hai điểm.
Từ so sánh đến mô tả cấu trúc
Mỗi cặp so sánh chỉ nói về hai điểm. Một HH đơn lẻ chưa đủ để kết luận cả cấu trúc tăng: đáy có thể đang thấp dần (xem ví dụ C), hoặc chưa có so sánh nào cho đáy (xem ví dụ A tại nến 13).
Bài mô tả hiện trạng bằng hai so sánh gần nhất (một cho đỉnh, một cho đáy). Đây là quy ước thực hành của bài, xét theo thứ tự sau:
- Bước 1, kiểm tra đủ dữ liệu. Nếu chưa có ít nhất hai đỉnh và ít nhất hai đáy đã xác nhận, tức chưa tạo được cả hai phép so sánh, thì hiện trạng là chưa đủ dữ liệu. Dừng ở đây.
- Bước 2, chỉ khi đã có đủ hai phép so sánh, mới xét ba nhãn còn lại:
| Nhãn | Điều kiện (khi đã có cả so sánh đỉnh và so sánh đáy) |
|---|---|
| Nghiêng tăng | So sánh gần nhất của đỉnh là HH và của đáy là HL |
| Nghiêng giảm | So sánh gần nhất của đỉnh là LH và của đáy là LL |
| Chưa rõ | Hai so sánh khác chiều (HH với LL, LH với HL), hoặc một trong hai là so sánh bằng giá |
Kiểm tra nhanh: hai đỉnh bằng nhau nhưng mới có một đáy đã xác nhận thì hiện trạng là chưa đủ dữ liệu (thiếu so sánh cho đáy), dù đã có so sánh “đỉnh bằng”. Bước 1 được xét trước. “Nghiêng” là cách mô tả, không phải kết luận về xu hướng. Bài không đặt số cặp tối thiểu để gọi là xu hướng và không tìm thấy con số đó trong các trang đã đọc. Một mô tả “nghiêng tăng” vẫn phụ thuộc N, khung thời gian và dữ liệu.
Ví dụ A: đỉnh cao hơn và đáy cao hơn
Số liệu giả định, thứ tự Mở – Cao – Thấp – Đóng:
| Nến | Mở – Cao – Thấp – Đóng |
|---|---|
| 1 | 99,5 – 101 – 99 – 100,5 |
| 2 | 99,5 – 102 – 98,5 – 101 |
| 3 | 99,5 – 100,5 – 97 – 98 |
| 4 | 99 – 102 – 98 – 101 |
| 5 | 100,5 – 104 – 99,5 – 103 |
| 6 | 103 – 106 – 102 – 105 |
| 7 | 105,5 – 108 – 104,5 – 107 |
| 8 | 106 – 107 – 103,5 – 104,5 |
| 9 | 104,5 – 105,5 – 101 – 102 |
| 10 | 103 – 104 – 99,5 – 100,5 |
| 11 | 101,5 – 102,5 – 98,5 – 99,5 |
| 12 | 100,5 – 103,5 – 99,5 – 102,5 |
| 13 | 102 – 105,5 – 101 – 104,5 |
| 14 | 104 – 107,5 – 103 – 106,5 |
| 15 | 106,5 – 110 – 105,5 – 109 |
| 16 | 107,5 – 108,5 – 105 – 106 |
| 17 | 106 – 107 – 103,5 – 104,5 |
Quy ước màu của các hình trong bài này: nến tăng (đóng cao hơn mở) tô xanh ngọc, nến giảm (đóng thấp hơn mở) tô đỏ san hô, nến doji (đóng bằng mở) tô xám sáng. Màu chỉ là quy ước của các hình này; nền tảng khác có thể tô khác, nên hãy đọc theo nhãn trong hình và theo số liệu Mở – Cao – Thấp – Đóng.
Hình 1. Ví dụ A: bốn điểm xoay đã xác nhận (chấm đặc) và nhãn so sánh (ví dụ giả định).
Các điểm xoay theo quy tắc N = 2 và thời điểm biết:
| Điểm | Ở nến | Giá | Biết sau khi đóng nến | So với điểm cùng loại trước |
|---|---|---|---|---|
| Đáy | 3 | 97 | 5 | chưa có điểm trước để so |
| Đỉnh | 7 | 108 | 9 | chưa có điểm trước để so |
| Đáy | 11 | 98,5 | 13 | HL (biết sau nến 13) |
| Đỉnh | 15 | 110 | 17 | HH (biết sau nến 17) |
Đọc theo thời gian, như người ở từng thời điểm:
- Sau nến 5 đóng: biết đáy ở nến 3. Chưa có điểm nào khác.
- Sau nến 9 đóng: thêm đỉnh ở nến 7. Mới có một đỉnh và một đáy, chưa có so sánh nào. Hiện trạng: chưa đủ dữ liệu.
- Sau nến 13 đóng: thêm đáy ở nến 11 và có HL (98,5 cao hơn 97). Đỉnh vẫn chỉ có một nên chưa so được. Hiện trạng: chưa đủ dữ liệu (thiếu so sánh cho đỉnh).
- Sau nến 17 đóng: biết đỉnh ở nến 15 và có HH (110 cao hơn 108). Có cả HH và HL: nghiêng tăng.
Sau khi nến 15 đóng, High 110 đã được quan sát, nhưng chưa thể gọi nến 15 là đỉnh đã xác nhận. Theo quy tắc N = 2, phải đợi nến 17 đóng và kiểm tra hai nến phía sau. Vì vậy đỉnh ở nến 15 không được dùng như dữ liệu đã biết ở các thời điểm trước khi nến 17 đóng.
Ví dụ B: đỉnh thấp hơn và đáy thấp hơn
Số liệu của ví dụ B (Mở – Cao – Thấp – Đóng)
| Nến | Mở – Cao – Thấp – Đóng |
|---|---|
| 1 | 104,5 – 106 – 104 – 105,5 |
| 2 | 105,5 – 106,5 – 103 – 104 |
| 3 | 105,5 – 108 – 104,5 – 107 |
| 4 | 106 – 107 – 103 – 104 |
| 5 | 104,5 – 105,5 – 101 – 102 |
| 6 | 102 – 103 – 99 – 100 |
| 7 | 99,5 – 100,5 – 97 – 98 |
| 8 | 99 – 101,5 – 98 – 100,5 |
| 9 | 100,5 – 104 – 99,5 – 103 |
| 10 | 102 – 105,5 – 101 – 104,5 |
| 11 | 103,5 – 106,5 – 102,5 – 105,5 |
| 12 | 104,5 – 105,5 – 101,5 – 102,5 |
| 13 | 103 – 104 – 99,5 – 100,5 |
| 14 | 101 – 102 – 97,5 – 98,5 |
| 15 | 98,5 – 99,5 – 95 – 96 |
| 16 | 97,5 – 100 – 96,5 – 99 |
| 17 | 99 – 101,5 – 98 – 100,5 |
Hình 2. Ví dụ B: đỉnh thấp hơn (LH) và đáy thấp hơn (LL) (ví dụ giả định).
| Điểm | Ở nến | Giá | Biết sau khi đóng nến | So với điểm cùng loại trước |
|---|---|---|---|---|
| Đỉnh | 3 | 108 | 5 | chưa có điểm trước để so |
| Đáy | 7 | 97 | 9 | chưa có điểm trước để so |
| Đỉnh | 11 | 106,5 | 13 | LH (biết sau nến 13) |
| Đáy | 15 | 95 | 17 | LL (biết sau nến 17) |
- Sau nến 13 đóng: có LH (106,5 thấp hơn 108). Chưa có so sánh cho đáy (mới một đáy). Hiện trạng: chưa đủ dữ liệu.
- Sau nến 17 đóng: có thêm LL (95 thấp hơn 97). LH và LL: nghiêng giảm.
Ví dụ C: cấu trúc chưa rõ
Số liệu của ví dụ C (Mở – Cao – Thấp – Đóng)
| Nến | Mở – Cao – Thấp – Đóng |
|---|---|
| 1 | 99,5 – 101 – 99 – 100,5 |
| 2 | 99,5 – 102 – 98,5 – 101 |
| 3 | 99,5 – 100,5 – 97 – 98 |
| 4 | 99 – 102 – 98 – 101 |
| 5 | 100,5 – 104 – 99,5 – 103 |
| 6 | 103 – 106 – 102 – 105 |
| 7 | 105,5 – 108 – 104,5 – 107 |
| 8 | 106 – 107 – 103 – 104 |
| 9 | 103,5 – 104,5 – 100 – 101 |
| 10 | 100,5 – 101,5 – 97,5 – 98,5 |
| 11 | 98 – 99 – 95 – 96 |
| 12 | 97,5 – 101 – 96,5 – 100 |
| 13 | 100,5 – 104 – 99 – 103 |
| 14 | 104 – 107 – 103 – 106 |
| 15 | 107,5 – 111 – 106 – 110 |
| 16 | 108 – 109 – 105 – 106 |
| 17 | 106,5 – 107,5 – 103,5 – 104,5 |
Hình 3. Ví dụ C: HH ở đỉnh nhưng LL ở đáy (ví dụ giả định).
| Điểm | Ở nến | Giá | Biết sau khi đóng nến | So với điểm cùng loại trước |
|---|---|---|---|---|
| Đáy | 3 | 97 | 5 | chưa có điểm trước để so |
| Đỉnh | 7 | 108 | 9 | chưa có điểm trước để so |
| Đáy | 11 | 95 | 13 | LL (biết sau nến 13) |
| Đỉnh | 15 | 111 | 17 | HH (biết sau nến 17) |
Sau nến 17 đóng, đỉnh cao hơn (HH: 111 so với 108) nhưng đáy lại thấp hơn (LL: 95 so với 97). Hai so sánh khác chiều nên hiện trạng là chưa rõ. Nếu chỉ nhìn HH, bạn sẽ nói “cấu trúc tăng”; nếu chỉ nhìn LL, bạn sẽ nói “giảm”. Cả hai cách đều bỏ một nửa dữ liệu.
Ví dụ D: dữ liệu chưa đủ
Ví dụ D dùng đúng 12 nến đầu của ví dụ A (bảng ở trên).
Hình 4. Ví dụ D: chỉ một đỉnh và một đáy đã xác nhận; chấm rỗng là ứng viên chưa dùng được (ví dụ giả định).
| Điểm | Ở nến | Giá | Biết sau khi đóng nến | So với điểm cùng loại trước |
|---|---|---|---|---|
| Đáy | 3 | 97 | 5 | chưa có điểm trước để so |
| Đỉnh | 7 | 108 | 9 | chưa có điểm trước để so |
Sau nến 12 đóng chỉ có một đỉnh và một đáy đã xác nhận, nên chưa có cặp nào để so sánh. Nến 11 có Low 98,5 thấp hơn các nến xung quanh nhưng mới có một nến phía sau (nến 12), nên chỉ là ứng viên. Dùng ứng viên này để nói “đã có HL” là dùng một điểm chưa xác nhận như dữ liệu đã biết. Kết luận đúng: chưa đủ dữ liệu.
Khi điểm xoay không luân phiên
Quy tắc điểm xoay của bài trước xét đỉnh và đáy độc lập, nên không bảo đảm danh sách điểm xoay luân phiên đỉnh, đáy, đỉnh, đáy. Ví dụ E có hai đỉnh liên tiếp mà không có đáy xác nhận ở giữa:
Số liệu của ví dụ E (Mở – Cao – Thấp – Đóng)
| Nến | Mở – Cao – Thấp – Đóng |
|---|---|
| 1 | 102,5 – 104 – 102 – 103,5 |
| 2 | 103,5 – 105,5 – 103 – 105 |
| 3 | 105 – 107 – 104,5 – 106,5 |
| 4 | 106,5 – 108,5 – 106 – 108 |
| 5 | 108 – 110 – 107,5 – 109,5 |
| 6 | 108,5 – 109 – 106,8 – 107,5 |
| 7 | 107,5 – 108 – 105,5 – 106 |
| 8 | 106,5 – 108,5 – 106 – 108 |
| 9 | 107,5 – 108 – 105,5 – 106 |
| 10 | 107,5 – 109,5 – 106,5 – 109 |
| 11 | 108,5 – 110,5 – 107,5 – 110 |
| 12 | 109,5 – 112 – 108,5 – 111 |
| 13 | 110,5 – 111 – 108 – 109 |
| 14 | 109,5 – 110 – 107 – 108 |
| 15 | 108,5 – 109 – 106,5 – 107 |
| 16 | 107,5 – 108 – 105,5 – 106 |
Hình 5. Ví dụ E: hai đỉnh (chấm xanh đậm), một điểm phụ (chấm xanh lá) và đường nối nét đứt chỉ để minh họa quy tắc bổ sung của bài (ví dụ giả định).
| Điểm | Ở nến | Giá | Biết sau khi đóng nến | So với điểm cùng loại trước |
|---|---|---|---|---|
| Đỉnh | 5 | 110 | 7 | chưa có điểm trước để so |
| Đỉnh | 12 | 112 | 14 | HH (biết sau nến 14) |
Giữa nến 5 và nến 12, các nến 7 và 9 cùng có Low 105,5. Vì bằng nhau trong N = 2 nến của nhau, theo quy tắc nghiêm ngặt của bài trước cả hai đều không là đáy, nên không có đáy xác nhận ở giữa.
Nếu bạn muốn nối các điểm thành một đường luân phiên đỉnh, đáy (kiểu zigzag), phải thêm một quy tắc bổ sung. Bài chỉ minh họa cách bổ sung điểm để vẽ đường nối ở ví dụ E, bằng quy tắc sau (quy ước thực hành của bài):
- Giữa hai điểm xoay cùng loại liên tiếp, lấy Low thấp nhất (nếu là hai đỉnh) hoặc High cao nhất (nếu là hai đáy) của các nến nằm giữa làm điểm phụ; nếu nhiều nến bằng nhau, lấy nến sớm nhất.
- Điểm phụ chỉ xác định được sau khi điểm xoay sau đã xác nhận.
- Điểm phụ không được đưa vào danh sách điểm xoay gốc. Nó không dùng để tính HH, HL, LH, LL hay nhãn hiện trạng; các phép so sánh vẫn chỉ dùng điểm xoay đã xác nhận theo bài trước.
Với ví dụ E, các Low giữa hai đỉnh là: nến 6: 106,8; nến 7: 105,5; nến 8: 106; nến 9: 105,5; nến 10: 106,5; nến 11: 107,5. Thấp nhất là 105,5, sớm nhất ở nến 7, nên điểm phụ ở nến 7. Điểm này chỉ biết sau khi nến 14 đóng (khi đỉnh ở nến 12 được xác nhận), chứ không phải sau nến 9.
Điểm khác thuật toán bài trước:
- Bài trước chỉ dựa vào N nến mỗi bên. Điểm phụ không thỏa quy tắc đó (nến 7 không phải đáy theo N = 2) và là một bước bổ sung có tính hồi cứu.
- Vì hồi cứu, điểm phụ không dùng được như điểm đã biết ở nến 7 hay nến 9.
- Đây không phải một thuật toán dựng zigzag hoàn chỉnh. Quy tắc chưa xử lý mọi trường hợp, ví dụ một nến đồng thời là đỉnh và đáy, hay nhiều điểm xoay liên tiếp cùng loại.
Có cách lọc khác để dựng zigzag. Trang ZigZag của StockCharts mô tả bộ lọc theo phần trăm: chỉ nối các điểm mà giá thay đổi ít nhất một tỷ lệ nhất định (truyền thống 5%), dựa trên high-low với biểu đồ nến. Trang nói đoạn cuối là tạm thời và rằng ZigZag “không có sức dự báo vì vẽ dựa trên nhìn lại”. Bài không dùng thuật toán đó; nhắc ở đây để thấy rằng “zigzag” không phải một định nghĩa duy nhất, và quy tắc điểm phụ của bài chỉ là một minh họa.
Giới hạn của bài này
- Bài chỉ mô tả cấu trúc; không kết luận xu hướng và không nói điểm xoay hay HH/LL có ý nghĩa dự báo.
- Các nhãn “nghiêng tăng/giảm”, “chưa rõ”, “chưa đủ dữ liệu”, “đỉnh bằng/đáy bằng” và “điểm phụ” là quy ước thực hành của bài. Điểm phụ chỉ để vẽ đường nối ở ví dụ E, không dùng để tính nhãn, và chưa xử lý mọi trường hợp (ví dụ một nến đồng thời là đỉnh và đáy).
- Kết quả phụ thuộc N = 2 và quy tắc nghiêm ngặt; đổi N hoặc cách xử lý giá bằng nhau có thể đổi nhãn.
- Chưa có xử lý cho vùng đi ngang, nhịp đẩy/điều chỉnh, hay chuyển trạng thái; đó là nội dung các bài sau.
Tóm tắt
- HH, LH so đỉnh với đỉnh; HL, LL so đáy với đáy, cùng loại và liền trước đã xác nhận. Bằng giá là đỉnh bằng/đáy bằng.
- Mỗi điểm ở nến k chỉ biết sau nến k + 2 đóng; một cặp chỉ biết sau điểm muộn hơn.
- Một HH hay một LL đơn lẻ chưa đủ để kết luận cấu trúc. Bài mô tả bằng hai so sánh gần nhất, và xét “chưa đủ dữ liệu” trước (cần ít nhất hai đỉnh và hai đáy đã xác nhận).
- Điểm xoay đã xác nhận mới dùng được; ứng viên thì chưa.
- Quy tắc điểm xoay không bảo đảm luân phiên. Muốn nối thành đường luân phiên cần quy tắc bổ sung; điểm phụ chỉ để vẽ, mang tính hồi cứu và không dùng để tính HH, HL, LH, LL hay nhãn hiện trạng.
Ôn tập
Hãy tự làm trước, rồi mở phần đáp án. Dùng quy ước của bài với N = 2.
Bài tập 1 (gắn nhãn và bằng giá). Các điểm xoay đã xác nhận (giá là High với đỉnh, Low với đáy):
| Điểm | Ở nến | Giá | Biết sau khi đóng nến |
|---|---|---|---|
| Đỉnh | 6 | 118 | 8 |
| Đáy | 10 | 112 | 12 |
| Đỉnh | 15 | 117 | 17 |
| Đáy | 19 | 112 | 21 |
| Đỉnh | 24 | 119 | 26 |
(a) Gắn nhãn so sánh cho từng điểm. (b) Mô tả hiện trạng sau khi nến 25 đóng. (c) Mô tả hiện trạng sau khi nến 26 đóng.
Xem đáp án
- (a) Đỉnh ở nến 6 và đáy ở nến 10: chưa có điểm cùng loại trước để so. Đỉnh ở nến 15: 117 so với 118, thấp hơn, là LH. Đáy ở nến 19: 112 so với 112, bằng nhau, là đáy bằng (không phải HL hay LL). Đỉnh ở nến 24: 119 so với 117, cao hơn, là HH.
- (b) Sau nến 25 đóng, đỉnh ở nến 24 chưa biết (biết sau nến 26). Các điểm đã biết cho so sánh gần nhất: đỉnh là LH, đáy là đáy bằng. Có so sánh bằng giá, nên hiện trạng là chưa rõ.
- (c) Sau nến 26 đóng, so sánh gần nhất của đỉnh đổi thành HH, còn đáy vẫn là đáy bằng. Vẫn có so sánh bằng giá nên hiện trạng vẫn là chưa rõ. Chỉ một HH không đủ để nói “nghiêng tăng”, và quy ước bằng giá là lựa chọn của bài.
Bài tập 2 (tìm điểm xoay từ OHLC). Mười bốn nến (Mở – Cao – Thấp – Đóng):
| Nến | Mở – Cao – Thấp – Đóng |
|---|---|
| 1 | 59,5 – 61 – 59 – 60,5 |
| 2 | 60,5 – 61,5 – 58 – 59 |
| 3 | 60,5 – 63 – 59,5 – 62 |
| 4 | 61 – 62 – 58 – 59 |
| 5 | 59,5 – 60,5 – 56 – 57 |
| 6 | 57 – 58 – 54 – 55 |
| 7 | 54,5 – 55,5 – 52 – 53 |
| 8 | 54 – 56,5 – 53 – 55,5 |
| 9 | 55,5 – 59 – 54,5 – 58 |
| 10 | 57 – 60,5 – 56 – 59,5 |
| 11 | 58,5 – 61,5 – 57,5 – 60,5 |
| 12 | 59,5 – 60,5 – 56,5 – 57,5 |
| 13 | 58 – 59 – 54,5 – 55,5 |
| 14 | 56 – 57 – 52,5 – 53,5 |
Tìm các điểm xoay đã xác nhận, gắn nhãn so sánh, và mô tả hiện trạng sau khi nến 14 đóng.
Xem đáp án
| Điểm | Ở nến | Giá | Biết sau khi đóng nến | So với điểm cùng loại trước |
|---|---|---|---|---|
| Đỉnh | 3 | 63 | 5 | chưa có điểm trước để so |
| Đáy | 7 | 52 | 9 | chưa có điểm trước để so |
| Đỉnh | 11 | 61,5 | 13 | LH (biết sau nến 13) |
- Đỉnh ở nến 3: High 63 cao hơn High của nến 1 (61), 2 (61,5), 4 (62) và 5 (60,5). Đáy ở nến 7: Low 52 thấp hơn Low của nến 5 (56), 6 (54), 8 (53) và 9 (54,5). Đỉnh ở nến 11: High 61,5 cao hơn nến 9 (59), 10 (60,5), 12 (60,5) và 13 (59).
- Đỉnh ở nến 11 so với đỉnh ở nến 3: 61,5 thấp hơn 63, là LH, biết sau nến 13 đóng.
- Đáy: mới có một đáy xác nhận (nến 7), nên chưa có so sánh cho đáy. Nến 14 (Low 52,5) chưa có nến phía sau nên không xét.
- Hiện trạng sau nến 14: chưa đủ dữ liệu, vì có LH nhưng chưa có so sánh nào cho đáy. Bài không gọi đây là “nghiêng giảm”.
Bài tập 3 (thời điểm biết). Các điểm xoay đã xác nhận:
| Điểm | Ở nến | Giá | Biết sau khi đóng nến |
|---|---|---|---|
| Đáy | 4 | 95 | 6 |
| Đỉnh | 9 | 104 | 11 |
| Đáy | 14 | 97 | 16 |
| Đỉnh | 19 | 106 | 21 |
Mô tả hiện trạng sau khi nến 15, 17, 20 và 21 đóng. Một người nhìn lại sau nến 21 nói “từ nến 14 cấu trúc đã nghiêng tăng”. Câu đó đúng hay sai?
Xem đáp án
- Sau nến 15: biết đáy ở nến 4 và đỉnh ở nến 9. Đáy ở nến 14 chưa biết (sau nến 16). Chưa có so sánh nào: chưa đủ dữ liệu.
- Sau nến 17: biết thêm đáy ở nến 14: 97 cao hơn 95, là HL. Đỉnh vẫn chỉ có một: chưa đủ dữ liệu.
- Sau nến 20: như sau nến 17, vì đỉnh ở nến 19 chưa biết (sau nến 21): chưa đủ dữ liệu.
- Sau nến 21: thêm đỉnh ở nến 19: 106 cao hơn 104, là HH. Có HH và HL: nghiêng tăng.
- Câu “từ nến 14 đã nghiêng tăng”: sai về thời điểm biết. Lúc nến 14 mới đóng, đáy ở nến 14 chưa được xác nhận và chưa có HH. Có thể nói hồi cứu rằng hai điểm là HL (đáy 14) và HH (đỉnh 19) với điều kiện ghi rõ “biết từ lúc nến 21 đóng”. Không được giả định đã biết từ nến 14.
Bài tập 4 (xen kẽ bằng điểm phụ). Hai đỉnh đã xác nhận: ở nến 4 (High 80, biết sau nến 6) và ở nến 11 (High 82, biết sau nến 13), không có đáy nào được xác nhận ở giữa. Low của các nến từ nến 5 đến nến 10 lần lượt là 76; 74,5; 75; 74,5; 75,5; 77. Theo quy tắc bổ sung của bài, điểm phụ ở nến nào và biết sau nến nào? Hai đỉnh so sánh thế nào? Điểm phụ khác thuật toán bài trước ở đâu?
Xem đáp án
- Low thấp nhất giữa hai đỉnh là 74,5, xuất hiện ở nến 6 và nến 8. Bằng nhau thì lấy nến sớm nhất: điểm phụ ở nến 6.
- Điểm phụ chỉ xác định được sau khi đỉnh sau đã xác nhận: sau nến 13 đóng, không phải sau nến 6 hay nến 8.
- Hai đỉnh: 82 cao hơn 80, là HH, biết sau nến 13 đóng.
- Khác thuật toán bài trước: điểm phụ không là kết quả của quy tắc N nến mỗi bên. Nến 6 không thể là đáy theo quy tắc đó, vì nến 8 nằm trong 2 nến bên phải của nến 6 và có Low bằng 74,5 (không nhỏ hơn nghiêm ngặt). Điểm phụ là bước bổ sung có tính hồi cứu, chỉ làm được khi đã biết đỉnh sau, và chỉ để vẽ đường nối. Phép so sánh hai đỉnh (HH) vẫn chỉ dùng hai đỉnh đã xác nhận, không dùng điểm phụ. Đây là quy ước thực hành của bài, không phải chuẩn chung.
Nguồn tham khảo
- Fidelity Learning Center, Basic concepts of trend (xu hướng tăng gồm đỉnh và đáy cao dần, xu hướng giảm gồm đỉnh và đáy thấp dần; xu hướng đi ngang trong một vùng nằm ngang)
- Investors Intelligence, The Concept of Trend (xu hướng tăng cần các đỉnh và đáy cao dần liên tiếp; xu hướng giảm ngược lại)
- TA-Lib, Williams Fractal (quy tắc điểm xoay N nến mỗi bên; giá trị ghi ở nến cách điểm xoay đúng R nến)
- LuxAlgo Library, Swing High/Low (điểm xoay chỉ biết sau khi các nến bên phải đã đóng; không có thiết lập N chung)
- StockCharts ChartSchool, ZigZag (bộ lọc theo phần trăm, dựa trên high-low với biểu đồ nến; đoạn cuối là tạm thời; không có sức dự báo vì vẽ dựa trên nhìn lại)
Bài liên quan
-
Lệnh thị trường và lệnh chờ khác nhau ở đâu Các loại lệnh phổ biến, điều mỗi loại ưu tiên và không bảo đảm, và những điểm dễ nhầm.
-
Thị trường vận hành thế nào? Những khái niệm cơ bản nhất Giá hình thành từ đâu, ai đang mua bán, và vì sao giá di chuyển. Một bản đồ ngắn cho người mới.
-
Các dạng nến cơ bản Nến thân dài, thân ngắn, marubozu, spinning top, doji và các dạng doji phổ biến. Cách nhận diện, điểm dễ nhầm, điều quan sát được và giới hạn khi diễn giải. Định nghĩa có thể khác nhau giữa các tài liệu.
Đọc xong và muốn trao đổi, hỏi thêm hoặc chia sẻ cách bạn hiểu bài này?
Kết nối với Alpha X